Thứ ba, 05/05/2026 | 12:02 GMT +7
Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia nguyên sản của cây chè trên thế giới, cùng với Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Myanmar và Ấn Độ.
Theo Hiệp hội chè Việt Nam, tính đến năm 2024, cả nước có trên 120 ngàn ha chè với sản lượng hàng năm đạt hơn 1,2 triệu tấn chè búp tươi, tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên… Sản phẩm chè Việt Nam đã xuất khẩu tới hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, sản lượng chè đứng thứ 5 thế giới. Bình quân kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam hơn 200 triệu USD/năm.
Ông Đoàn Anh Tuân, Giám đốc Công ty TNHH Thế Hệ Mới (giữa) và TS Nguyễn Ngọc Bình - Phó Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc tham dự tọa đàm “Chuyện ngành chè làm nông nghiệp hữu cơ” do Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức. Ảnh: Duy Học.
Với vị thế của một cây công nghiệp có truyền thống lâu đời, ngành chè nước ta có trên 1,5 triệu người trực tiếp tham gia trồng và sản xuất và khoảng 2,5 triệu người gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè.
Trong xu thế phát triển chung của thế giới, ngành chè Việt Nam đã bộc lộ những nút thắt và rào cản lớn. Đó là tư duy manh mún, vùng nguyên liệu hạn chế, chất lượng sản phẩm thấp, chưa được đầu tư tương xứng, thiếu lợi thế cạnh tranh…
Đề án phát triển cây công nghiệp chủ lực đến năm 2030 xác định chè là 1 trong 6 cây công nghiệp chủ lực. Chính vì vậy, giải pháp kỹ thuật, định hướng phát triển cho từng vùng và các chính sách kèm theo đều nhằm mục tiêu phát triển ngành chè ổn định và bền vững.
Mục tiêu đến năm 2030, diện tích trồng chè cả nước ổn định khoảng 120 - 125 nghìn ha, trong đó vùng Trung du miền núi phía Bắc khoảng 98 - 100 nghìn ha, vùng Bắc Trung Bộ khoảng 10 - 12 nghìn ha, vùng Tây Nguyên khoảng 8 - 10 nghìn ha, còn lại được trồng tại một số tỉnh như Quảng Ninh, Hà Nội, Quảng Nam… Sản lượng chè hàng năm đạt từ 1,4 đến 1,5 triệu tấn.
Nước ta hiện có trên 1,5 triệu người trực tiếp tham gia trồng và sản xuất chè cùng khoảng 2,5 triệu người gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè. Ảnh: Hoàng Anh.
Song song với công tác định hướng quy hoạch là các giải pháp kỹ thuật, áp dụng đồng bộ tiến bộ khoa học kỹ thuật mới như trồng cây che bóng, tưới nước tiết kiệm, cơ giới hóa khâu đốn, thu hoạch búp chè, sử dụng đúng thuốc bảo vệ thực vật... Mục tiêu đến năm 2030, diện tích chè áp dụng quy trình sản xuất GAP và tương đương đạt khoảng trên 70%, được cấp mã số vùng trồng đạt trên 70%...
Với diện tích chè già cỗi, cần trồng tái canh bằng những giống chè mới có năng suất, chất lượng cao; 100% diện tích chè trồng mới được sử dụng giống đạt tiêu chuẩn. Ở những nơi có điện kiện, gắn phát triển vùng trồng chè với phát triển văn hóa, du lịch, dịch vụ (Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Phú Thọ, Nghệ An, Lâm Đồng...).
Ông Đoàn Anh Tuân, Giám đốc Công ty TNHH Thế Hệ Mới với thương hiệu trà Cozy phân tích: Xu thế các nước nhập khẩu chè ngày càng yêu cầu cao hơn về an toàn thực phẩm, do đó các đơn vị sản xuất chè Việt Nam phải tổ chức sản xuất theo chứng nhận, xây dựng mã số vùng trồng theo thị trường. Đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo hướng tăng phân bón hữu cơ, giảm phân bón vô cơ, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục cho phép và theo quy định của thị trường.
Nông nghiệp hữu cơ là con đường tất yếu của ngành chè. Ảnh: Hoàng Anh.
“Suốt thời gian dài ngành chè đã phải trả giá vì phân bón, thuốc BVTV hóa học, dẫn đến tình trạng Việt Nam được xem như cái nôi của chè giá rẻ. Muốn thay đổi, ngành chè chỉ có một con đường, đó là nông nghiệp hữu cơ mới có thể nâng cao được giá trị, lợi thế cạnh tranh và vị thế trên thị trường quốc tế”, ông Đoàn Anh Tuân phân tích.
Cũng theo CEO của trà Cozy, hơn 10 năm đeo đuổi con đường nông nghiệp hữu cơ, giá trị của Cozy mang lại không chỉ đơn thuần là kinh tế. Khi Cozy giới thiệu sản phẩm chè hữu cơ đến khách hàng quốc tế, đã cảm nhận rõ sự ngưỡng mộ và trân trọng của họ, nhờ đó vị thế của Cozy nói riêng và chè Việt nói chung ngày càng được nâng cao, khẳng định uy tín và chất lượng với sản phẩm đa dạng như chè xanh, chè đen, các sản phẩm từ chè shan rừng, chè ướp hương, chè Ô long...
TS Nguyễn Ngọc Bình - Phó Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc cho biết: Cây chè vẫn là lợi thế của nông nghiệp Việt Nam và liên quan đến đời sống của hàng triệu hộ dân, chính vì vậy vấn đề chuyển hướng canh tác sang giá trị cao là nhu cầu cấp thiết và hữu cơ là hướng đi phù hợp nhất. Trong tương lai, thay vì xuất khẩu chè thô, giá rẻ, cần hướng đến xây dựng thương hiệu, chất lượng và nâng cao giá bán sản phẩm chè.
“Hiện tại, Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao nghiên cứu 2 quy trình gồm chuyển đổi sản xuất chè hữu cơ và canh tác chè hữu cơ. Dự kiến đến tháng 12/2025, 2 quy trình này sẽ được thông qua và ban hành nhằm kịp thời phục vụ sản xuất, canh tác của ngành chè theo hướng hữu cơ. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác, chế biến sẽ góp phần phát huy tiềm năng lợi thế và nâng cao giá trị của chè Việt, nhất là xây dựng ngành chè theo hướng hữu cơ, bền vững”, TS Nguyễn Ngọc Bình khẳng định.
Ngành chè Việt Nam đang trong quá trình thay đổi, con đường thương mại mới đang được mở ra để khẳng định thương hiệu chè Việt – thương hiệu quốc gia với cộng đồng quốc tế. Con đường đi tới tương lai chính là nông nghiệp hữu cơ nhằm góp phần nâng cao giá trị, hình ảnh nông sản Việt Nam minh bạch, trách nhiệm, sinh thái và vững bền.
Đó không chỉ là thay đổi về phương thức sản xuất mà còn là thay đổi tư duy để chè Việt Nam có thể vươn xa, chinh phục những thị trường khó tính nhất.
Từ những mô hình cụ thể, nông nghiệp hữu cơ Lâm Đồng đang từng bước hình thành cả vùng sản xuất lẫn đầu ra, tạo nền tảng cho nông nghiệp xanh và bền vững.
Sản xuất rau VietGAP, rau hữu cơ tại TP Đà Nẵng mang lại hiệu quả kinh tế, thu nhập cao cho nông dân, góp phần bảo vệ môi trường.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang tăng tốc khi thị trường bùng nổ, nhưng để chinh phục thế giới cần vượt rào cản chi phí, thị trường, niềm tin và nâng cao chất lượng.
LÀO CAI 2.000 cây chè cổ thụ ở Dền Sáng như chứng nhân trăm tuổi của núi rừng, mang lại sinh kế nuôi 41 hộ dân suốt bao đời.
Quá trình chuyển đổi từ canh tác hóa học sang hữu cơ, tuần hoàn vẫn đối mặt nhiều khó khăn với ba nhóm rào cản lớn.
QUẢNG NGÃI Kiên trì theo đuổi mục tiêu làm gạo sạch, một lão nông ở tỉnh Quảng Ngãi đã tự tìm hướng canh tác hữu cơ, giảm chi phí, an toàn với sức khỏe và môi trường.
Chị Trần Thị Ngọc Lan đã gây dựng chuỗi sản phẩm trà tía tô Hibiso, vươn ra xuất khẩu và phát triển bền vững cho nông dân Việt.
LÂM ĐỒNG Tận dụng phụ phẩm để ủ phân hữu cơ giúp nông dân giảm chi phí, cải thiện đất và bảo vệ môi trường, hướng tới nền nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn.
THANH HÓA Anh Thiên theo đuổi con đường làm nông nghiệp an toàn, sản xuất thực phẩm sạch theo chuẩn VietGAP và hữu cơ chỉ vì… mê phim Hàn Quốc.
NGHỆ AN Dù có bề dày sản xuất và diện tích chè khá lớn song đến nay diện tích chè hữu cơ được chứng nhận của Nghệ An mới khoảng 20ha, dư địa còn rất lớn.